Kinh nghiệm du lịch vãn cảnh chùa Bái Đính Ninh Bình

Chùa Bái Đính Ninh Bình

Tràng An – Bái Đính là 2 địa điểm thường xuyên xuất hiện cùng nhau trong hành trình du lịch Ninh Bình. Nếu như Tràng An là 1 vùng sông nước, núi non hùng vĩ, nét đẹp thinh không giúp du khách tạm quên đi những lo toan thường ngày, sự xô bồ của phố thị thì Chùa Bái Đính Ninh Bình mang lại cảm giác an nhiên, yên bình, thanh tịnh của đất Phật. Bài viết này sẽ giúp du khách có cái nhìn tổng quan về những địa điểm trên Chùa Bái Đính và chia sẻ về kinh nghiệm du lịch chùa Bái Đính Ninh Bình.

Toàn cảnh chùa Bái Đính

chùa bái đính
Toàn cảnh chùa Bái Đính

Giới thiệu về chùa Bái Đính Ninh Bình

Lịch sử chùa Bái Đính

Giới thiệu về chùa Bái Đính – Hơn 1000 năm về trước, khu du lịch văn hóa tâm linh chùa Bái Đính Ninh Bình là nơi đóng đô tạm thời của nhà Đinh trong lúc tiến hành xây dựng kinh đô Hoa Lư và sau đó đóng vai trò là một trong “tứ trấn” của kinh đô Hoa Lư. Cũng nơi đây, dưới thời Lý, Quốc sư Nguyễn Minh Không dựng chùa tu hành, làm thuốc chữa bệnh cứu người, đặc biệt là việc chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông.

Ta có thể khẳng định nơi đây từ xưa tới nay là một trong những trung tâm Phật giáo (thờ Phật), đạo giáo (thờ thần Cao Sơn), tín ngưỡng thờ Mẫu (mẫu Liễu Hạnh). Đển ngày nay, các đền, phủ được phục dựng và ngôi chùa lớn nhất Việt Nam được xây dựng tại đây, rộng 700 ha bao gồm 21 hạng mục chính với hai ngôi chùa: chùa Bái Đính cổ và chùa Bái Đính mới.

Chùa Bái Đính ở đâu?

Toàn bộ Khu du lịch văn hóa tâm linh chùa Bái Đính Ninh Bình thuộc khu Quần thể Danh thắng Tràng An, nằm trên địa bàn xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, cách Cố đô Hoa Lư 7km và cách thành phố Ninh Bình 15 km.

Núi Bái Đính là điểm khởi đầu ở phía Tây Bắc của sơn hệ đá vôi Hoa Lư và cũng là phần chân của dãy Hymalaya, nơi khởi nguồn của đạo Phật. Các ngọn núi trong sơn hệ có độ cao trung bình từ 70-170m. Với độ cao 187m, có thể nói, núi Bái Đính là ngọn núi cao nhất vùng, là núi chủ/ núi chúa của sơn hệ đá vôi Hoa Lư. Núi Bái Đính, theo cách giải thích dân gian có nghĩa là: núi có lễ bái trên đỉnh cao.

Và khu vực núi Bái Đính cũng nằm trên dòng chảy của tín ngưỡng thờ Mẫu (một tín ngưỡng bản địa của dân tộc), từ đền Sòng, phố Cát (Thanh Hóa) đến phủ Đồi Ngang (Nho Quan – Ninh Bình) qua núi Bái Đính, ở đây ngoài động thờ Phật, đền thờ thánh Cao Sơn còn có phủ thờ Mẫu, để rồi từ đây, dòng chảy tiếp tục về núi Gôi (Nam Định) gắn liền với nhân vật mẫu Liễu Hạnh ba lần sinh, ba lần hóa.

Cũng chính vì thế, nhân ngày lễ hội chùa Bái Đính Ninh Bình (ngày mồng 6 tháng Giêng) vào các năm 1943, 1944 có hàng nghìn Phật tử; tín đồ của Mẫu, của Thánh đến tham dự, lợi dụng thời điểm tập trung đông người này các chiến sĩ Cộng sản (trong đó có đồng chí Trần Tử Bình) đã diễn thuyết, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, góp phần thành công cho cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945. Để ngày nay chúng ta có cuộc sống ấm no, tự do, có cơ sở vật chất xứng đáng cho tôn giáo, tín ngưỡng, góp phần làm đậm đà thêm tâm hồn người Việt.

Phật Di lặc Chùa Bái Đính
Phật Di lặc Chùa Bái Đính (Truong Huy)

Diện tích chùa Bái Đính

Khu du lịch tâm linh chùa Bái Đính rộng tổng 539 ha (riêng chùa Bái Đính cổ rộng 27 ha, chùa Bái Đính mới mới 80 ha).

Địa chỉ chùa Bái Đính

Địa chỉ chùa Bái Đính: tọa lạc tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Bản đồ chùa Bái Đính

Để đến vãn cảnh, hay đi du lịch chùa Bái Đính, bạn có thể dùng Google Maps để tìm bản đồ chùa Bái Đính.

Sơ đồ tham quan chùa Bái Đính

Sơ đồ tham quan chùa Bái Đính chi tiết nhất
Sơ đồ tham quan chùa Bái Đính chi tiết nhất

Giá vé xe điện và tham quan trong chùa Bái Đính

  • Vé xe điện: 60.000 vnđ/người
  • Vé tham quan Bảo tháp: 50.000 vnđ/người
  • Giá vé hướng dẫn viên: 300.000 vnđ/tour

Chùa Bái Đính có mở cửa không?

Trong và sau dịp Tết Nguyên đán 2021, chùa Bái Đính có mở cửa không là câu hỏi của nhiều du khách thập phương. Hiện tại, chùa Bái Đính vẫn mở cửa cho du khách đến vãn cảnh. Tuy nhiên, du khách phải thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 như: Đo thân nhiệt, sát khuẩn tay, đeo khẩu trang và khai báo ý tế.

Lễ hội chùa Bái Đính

Mùng 6 tháng Giễng hàng năm (mùng 6 Tết Nguyên đán), chùa Bái Đính có tổ chức lễ khai hội hay còn gọi là Lễ hội chùa Bái Đính. Tuy nhiên, vì dịch Covid nên Lễ hội chùa Bái Đính 2020, 2021 không tổ chức. 

Kinh nghiệm đi chùa Bái Đính

Thời gian đi vãn cảnh chùa Bái Đính Tràng An thích hợp nhất?

Nếu bạn thích không khí lễ hội, sự nhộn nhịp của dòng người đi du xuân đầu năm có thể lựa chọn đi chùa Bái Đính từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch. Đây cũng là lúc thời tiết mùa xuân ấm áp, đôi lúc có mưa xuân – thời điểm khá đẹp cho những chuyến hành hương, làm lễ đầu năm tại Bái Đính Tràng An. Bạn có thể kết hợp du xuân vãn cảnh, lễ chùa cầu may và tham gia các lễ hội lớn ở cả Tràng An và Bái Đính.

Nếu như lễ hội Tràng An băt đầu từ 17/3-21/3 âm lịch thì lễ hội chùa Bái Đính vào ngày đầu năm mới mùng 6 tháng Giêng âm lịch.

Với kinh nghiệm đi chùa Bài Đính mình khuyên bạn cũng nên lưu ý đây cũng là mùa du lịch lễ hội cao điểm nên khách tham quan tới đây rất đông đúc gây ra tình trạng quá tải, chen chúc.

Vì thế nếu như là người không thích sự ồn ào, bạn cũng có thể tham quan chùa Bái Đính và du lịch Tràng An vào những khoảng thời gian khác trong năm. Nhìn chùng, vào mỗi mùa, chùa Bái Đính – Tràng An đều mang những vẻ đẹp riêng, nhưng thú vị hơn vả là tiết trời đầu năm và không khí khung cảnh lãng mạn nên thơ và mùa Thu.

Hình ảnh chùa Bái Đính
Hình ảnh chùa Bái Đính – hàng lang La Hán (Thu Phuong)

Đi chùa Bái Đính cần chuẩn bị gì và lưu ý điều gì?

Khi đến tham quan, vãn cảnh chùa Bái Đính, du khách lưu ý mặc những trang phục kín đáo, lịch sự, không thắp hương quá nhiều và xả rác bừa bãi. Dịp đầu năm, người đến hành hương đông, du khách nên chủ động bảo quản tài sản cá nhân, tránh thất lạc đồ đạc.

Nhằm phòng tránh dịch Covid 19, du khách đến du lịch chùa Bái Đính cần khai báo y tế, đeo khẩu trang, sát khuẩn tay… thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống dịch của Chính Phủ và khuyến cáo 5K của bộ Y Tế.

Về trang phục: Du khách nên sử dụng những đôi giày thể thao, đế phẳng, cao su, thoải mái thay vì đi giày cao gót để bảo vệ đôi chân của bạn cũng như thuận tiện cho việc di chuyển. Bởi không gian, diện tích chùa Bái Đính rất rộng, du khách sẽ phải đi bộ, leo núi.

Trang phục khi vào nơi hành lễ cần kín đáo, trang nghiêm. Nếu mặc những bộ đồ phục vụ chụp ảnh check in cần quây kín bằng vải, áo phật tử… trước khi vào lễ.

Dịp đầu xuân thường có mưa phùn lất phất, do đó bạn nên mang theo một chiếc ô gấp nhỏ dự phòng. Vào mùa hè cần magn theo các phụ kiện chống nắng: áo, mũ, nón, kính mát, nước…. Vào mùa Đông ăn mặc ấm.

Nhớ mang theo tiền lẻ khi đi lễ chùa và quyên góp nhé. Tránh bỏ tiền lên các tượng phật làm mất mỹ quan khu chùa mà thay vào đó bạn nên để đúng vào các hòm công đức nơi đây.

Về đồ làm lễ: Lễ chùa quan trọng là thành tâm và các hành động làm thiện thực tế trong cuộc sống hàng ngày, thế nên đồ lễ chùa Bái Đính nên chuẩn bị một cách tinh tế, gọn gàng, không quá phô trương, và đặc biệt chú ý đồ lễ là đồ thuần chay như: hoa quả, bánh oản, nước, hương nến…

Khách sạn, khách xá Bái Đính
Khách xá Bái Đính

Lưu trú tại khách xá Bái Đính

Tọa lạc trong khuôn viên chùa Bái Đính – ngôi chùa lớn nhất Việt Nam sở hữu nhiều kỷ lục, khách xá Bái Đính được xây dựng với kiến trúc cổ kính và sang trọng mang đậm nét Á Đông cổ điển.

Nằm giữa không gian yên tĩnh hùng vĩ của thiên nhiên núi non, Khách xá Bái Đính là nơi lý tưởng cho khách du lịch thập phương nghỉ dưỡng, hội họp và tham quan chiêm bái chùa Bái Đính Được thiết kế với các vật liệu tông màu trầm mang dáng dấp của chốn trang nghiêm thanh tịnh cùng nội thất được làm từ các loại gỗ quý hiếm, bước tới nơi đây như lạc vào một thế giới êm dịu và thư thái tuyệt đối.

Những cảm giác mệt mỏi bức bối của cuộc sống hiện đại bỗng chốc bị xua tan, hòa mình vào vẻ đẹp trong lành của thiên nhiên, thoảng nghe tiếng chuông chùa vang vọng

Nếu không thích di chuyển xa với các địa điểm du khác của tỉnh Ninh Bình, các bạn có thể cân nhắc việc lựa chọn ở trong một số homestay ngay gần Tràng An hoặc trung tâm thành phố Ninh Bình.

Cách nhanh nhất là đặt phòng trên Agoda, có rất nhiều phương án để các bạn lựa chọn như: khách sạn, homestay, resort, khách xá Bái Đinh… Mã giảm giá khi đặt phòng cũng có sẵn để các bạn lựa chọn đặt phòng trên: Agoda

Thuyết minh về chùa Bái Đính

Chùa Bái Đính cổ

Giếng Ngọc

Giếng Ngọc có diện tích xung quanh 6000m2, đường kính 30m, độ sâu 10m, mực nước 6-7m, bao quanh có 4 lầu bát giác và nước giếng có màu xanh ngọc bích, mạch nước tự nhiên từ xưa đến nay chưa cạn bao giờ mặc dù nằm trên địa hình cao.

Cổng Tam quan chùa Bái Đính

Du lịch chùa Bái Đính Ninh Bình – Tam quan chùa đề bốn chữ Hán “Minh đỉnh danh lam”. Tương truyền, đây là bốn chữ được vua Lê Thánh Tông (1460-1496) một lần kinh lý về phương Nam, qua Ninh Bình, nhà vua lên thăm phong cảnh Bái Đính. Khi lên vãn cảnh chùa trên đỉnh núi Bái Đính, nhà vua đề tặng bốn chữ “Minh đỉnh danh lam” và một bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán.

Minh đỉnh danh lam có nghĩa là: Đây là ngôi chùa thờ Phật rất đẹp và có giá trị, xứng đáng được ghi vào minh văn khắc trên đỉnh đồng để ai cũng biết, cũng ghi nhớ.

Dịch thơ:

Đính Sơn danh tiếng thực cao xa

Che chở kinh thành tự thuở xưa

Bài thơ chữ Hán vua tặng như sau:

Minh đỉnh danh lam

Đính Sơn độc chiếm nhất danh cao

Bảo chướng Hoàng đô tự tích trào/triều

Nhật kiệt địa linh chung vượng khí

Huyền sơn mỹ lệ tráng kim âu

Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí

Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.

Hai bên tam quan có đề đôi câu đối:

Giang sơn trung tú khí cảnh sắc tiên hương mạc thanh cao

Vân vũ thị hồng ân Nam quốc chúa linh giai nhuận trạch

Dịch nghĩa:

Sông núi tạo khí lành, cảnh sắc cõi tiên chẳng đâu bằng

Mây mưa ban ơn lớn, cõi thiêng nước Nam đều ban khắp

Qua cổng tam quan rẽ phải, chúng ta đến bái lạy bàn thờ Sư tổ Đạt Ma, đây là Cửa Trình để báo trình tên họ, nơi ở của quý khách đến thăm viếng cảnh chùa. Ông được coi là người truyền bá, sáng lập ra Thiền học và Võ thuật tới Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Quốc, ông đã truyền thụ phương pháp rèn luyện thân thể cho các nhà sư Thiếu Lâm và dẫn đến việc hình thành môn võ Thiếu Lâm. Ông cũng là cha đẻ của Thiền Phật giáo.

chùa bái đính cổ
Hình ảnh chùa Bái Đính

Động thờ Phật

Động/hang thờ Phật còn gọi là hang Sáng, động dài khoảng 25m, rộng 15m. Đây chính là chùa thờ Phật do đức Nguyễn Minh Không lập vào khoảng năm 1096 – 1106. Trước cửa động là 2 Đức Hộ Pháp: Ông Khuyến Thiện và ông Trừng Ác, bên trong là điện thờ chính là ban Tam Bảo tức thờ ba pho tượng đại diện ba thời: Quá khứ, Hiện tại và Tương lai. Bên tay phải là ban Đức Thánh Hiền và bên tay trái là ban Đức Chúa Ông.

Hiện nay, các tượng thờ ở đây đều được đúc bằng đồng nguyên khối, mạ vàng. Có thể nói, không gian nơi đây vừa thiêng liêng vừa thuần khiết, là nơi mà các phật tử, chúng sinh cảm nhận rõ ràng nhất sự thánh thiện, thoát tục của cõi Phật.

Đền thờ thần Cao Sơn

Đi sâu vào trong hang Sáng, phí sau bàn thờ Phật, chúng ta dừng chân kính cẩn trước bàn thờ thần Cao Sơn và đền thờ phía sau. Theo như thần phả của đền núi Hầu (xã Yên Thắng, Yên Mô, Ninh Bình) thì Cao Sơn đại vương là Lạc tướng Vũ Lâm, con thứ 17 vua Lạc Long Quân, thần đã dạy bảo và giúp đỡ người dân làm ăn sinh sống đồng thời bảo vệ khỏi các thế lực phá hoại, vì vậy đã được nhân dân lập đền thờ.

Thần Cao Sơn cùng với thần Thiên Tôn và thần Quý Minh là ba vị thần trấn ngự ở ba cửa ngõ phía tây, đông và nam của Cố đô Hoa Lư, ngôi đền thần Cao Sơn hiện tại được tu tạo có kiến trúc gần giống với đền Thánh Nguyễn, cũng xây tựa lưng vào núi, có hành lang ngăn cách với thung lũng ở phía trước.

Có thể quý khách sẽ thắc mắc, tại sao có tượng thần Cao Sơn thờ trên động, lại có đền thờ Cao Sơn, có phải hai vị thần này khác nhau? Xin thưa, hai tượng thần Cao Sơn này chỉ là một. Lý do là khi đúc tượng thần Cao Sơn bằng đồng nguyên khối mạ vàng, định thay thế tượng ngài bằng gỗ trên động Sáng, nhưng khi đưa tượng đồng vào, pho tượng gỗ không thể nào di dời ra khỏi vị trí cũ.

Trong tình thế pho tượng ngài bằng đồng đã được đúc, các nhà hảo tâm liền nghĩ cách dựng cho ngài “ngôi nhà mới” bên sườn núi. Từ đây, chúng ta có thể nhìn bao quát sơn hệ đá vôi Hoa Lư, nơi có khu hang động Tràng An, như có hàng trăm ngọn núi chầu về núi Bái Đính (chầu về núi chủ, núi chúa).

Các câu đối treo ở đền gồm:

Đôi phía ngoài:    

Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo

Thiên thu nhật nguyệt khánh trùng quang

Dịch nghĩa:          

Đất trời muôn thuở nay tái tạo

Nhật nguyệt nghìn thu lại sáng soi

Đôi câu đối ở giữa:

Nam phương tích phúc thần công đại                                        

Tráng địa thi ân thánh đức thâm

Dịch nghĩa:            

Công thần tích phúc ở trời Nam

Đất thánh ban ơn nơi đất đẹp

Đôi câu đối phía trong:  

Nhân kiệt địa linh thiên cổ tích

Dân khang vật phụ vạn niên xuân

Dịch nghĩa:                   

Nhân kiệt, địa linh ngàn năm còn dấu cũ

Dân an vui, vật tươi tốt, muôn thuở xuân

Vườn thuốc phía trước đền thờ thánh Cao Sơn: Tương truyền, đây là vườn thuốc của thiền sư Nguyễn Minh Không, ông đã tìm ra nhiều cây thuốc quý để chữa bệnh cho mọi người. Sau này, cũng đã có nhiều lương y đến đây tìm các cây thuốc để chữa bệnh cứu người. Vườn thuốc có diện tích khoảng 4ha, có các loại cây thuốc quý như: sinh địa, hoài sơn, sâm bồ, ngũ da bì, đơn xương, đẳng sâm…

Vườn thuốc này được thiền sư Nguyễn Minh Không đặt tên là Sinh Dược, có nghĩa là vườn thuốc sống, vườn thuốc tự nhiên, đối lập với loại thuốc đã bào chế, sao tẩm (hiện nay vẫn còn thôn Sinh Dược, là lấy theo tên của vườn thuốc này).

Hình ảnh chùa Bái Đính
Hình ảnh chùa Bái Đính

Đền thờ thánh Nguyễn Minh Không

Đây là ngôi đền nằm ở vị trí giữa vòng cung “tay ngai” của núi Bái Đính, một bên là động thờ Phật và thần Cao Sơn, một bên là động thờ Mẫu. Từ vị trí này có thể nhìn xuống thôn Ổ Gà – nơi có giếng ngọc, xa hơn, có con đường to uốn lượn, đó là con đường đi vườn Quốc gia Cúc Phương. Điều đặc biệt là từ đền thờ Nguyễn Minh Không nhìn ra phía trước là căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, con đường nhà Lê – con đường thượng đạo ra Bắc vào Nam thời xưa.

Giới thiệu về Quốc sư Nguyễn Minh Không: Nguyễn Minh Không tên tự là Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1066 (cũng có tài liệu cho rằng ông sinh năm 1065) tại thôn Điềm Dương (nay là xã Gia Thắng, huyện Gia Viễn). Ông xuất gia từ năm ông 11 tuổi, kết nghĩa anh em với Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Giác Hải. Ông được coi là thần y khi chữa bệnh “hóa hổ” cho vua Lý Thần Tông bằng thuốc Nam. Có thể nói, ông là một trong những người đầu tiên tìm ra phương pháp chữa bệnh bằng thuốc Nam. Ông mất năm 1141, thọ 76 tuổi.

Ông còn được mệnh danh là ông tổ đúc đồng, là người có công tạo nên “tứ đại khí” nổi tiếng thời Lý, đó là tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền, tượng Quỳnh Lâm và vạc Phổ Minh.

Hiện nay, ông được nhiều nơi trong nước lập đền thờ, tại quê ông có ngôi đền thờ ông rất to, đẹp, khang trang. Tên tuổi của ông gắn chặt với vườn Sinh Dược tại núi Bái Đính, những huyền thoại, huyền tích về đức Thánh Nguyễn còn dày đặc ở khu núi chùa Bái Đính và các vùng phụ cận. Thật là một thiếu sót lớn nếu chúng ta đến thăm núi chùa Bái Đính mà không thắp một nén tâm nhang tưởng nhớ đến Thánh Nguyễn Minh Không.

Động thờ Mẫu

Động này còn có tên là động/ hang Tối, thờ tam tòa Thánh Mẫu. Tại đây có 7 động nhỏ thông nhau. Trần động có nhũ đá rủ xuống tạo nên những hình dáng khác nhau, như cá vượt vũ môn, rồng hút nước, cây tiền, cây bạc, cây thóc, bàn cờ Đế Thích, người cày ruộng, ao bèo… Giữa động có nhũ đá rủ xuống như một cây cột, gọi là “nhất trụ kình thiên” (một cột chống trời), khi gõ vào phát ra những âm thanh diệu kỳ như một cây đàn đá nhiều cung điệu.

Như chúng ta đã biết, tục thờ Mẫu mang tính chất bản địa của người Việt Nam. Động Tối thờ thánh mẫu Liễu Hạnh, nhân vật vừa là thánh vừa là nhân, bà là Mẫu nghi thiên hạ, được mọi người biết đến với “tam sinh, tam hóa”.

Trong động Tối còn có “lối lên trời” và đường “xuống âm phủ”.

Ao Tiên

Phía trong động thờ Mẫu có một ao nhỏ, người ta gọi là Ao Tiên. Đây cũng có thể coi là điểm “tụ phúc”, vì ao được hình thành tự nhiên, nước từ nhũ đá nhỏ xuống thánh thót quanh năm nên không khi nào Ao Tiên cạn nước.

chùa bái đính mới
Hình ảnh chùa Bái Đính

Khu núi chùa Bái Đính mới

Năm 2003, dựa trên nền tảng của ngôi chùa cổ, Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường đã trùng tu và đầu tư xây dựng chùa Bái Đính mới. Hiện nay, chùa có 8 hạng mục công trình chính: Cổng Tam Quan chùa Bái Đính, Hành Lang La Hán, Tháp Chuông chùa Bái Đính, điện Quan Thế Âm Bồ Tát, Điện Pháp Chủ, Điện Tam Thế, Phật Di Lặc và Bảo Tháp chùa Bái Đính. Với một số kỷ lục đã được Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận, đó là:

Chuông đồng lớn nhất Việt Nam (nặng 36 tấn, cao 18,25m).

Pho tượng Đức phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam (nặng 100 tấn, cao 10m).

Bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam (mỗi tượng nặng 50 tấn, cao 7,2m).

Chùa có Giếng Nước lớn nhất Việt Nam (đường kính 30m).

Tượng phật bà Quan thế âm bằng đồng lớn nhất Việt Nam (nặng 80 tấn, cao 5,4m).

Hành lang 500 vị La Hán nhiều nhất Việt Nam.

Chùa có nhiều cây bồ đề nhất Việt Nam.

Bộ tượng bát bộ kim cương bằng đồng nặng nhất Việt Nam (mỗi tượng nặng 4 tấn, cao 3,95m).

Tượng ông Khuyến Thiện và Trừ Ác bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam (mỗi tượng nặng 20 tấn, cao 5,2m).

Chùa có các bệ thờ bằng gỗ lớn nhất Việt Nam.

Chùa có cặp hạc bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Pho tượng Phật Di Lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á (nặng 80 tấn, cao 10m).

Tòa bảo tháp chùa Bái Đính cao nhất Châu Á (Tòa bảo tháp thờ Phật cao nhất Châu Á) cao 99m, với 13 tầng.

Ngoài ra chùa còn có các công trình khác như: Công viên văn hóa và học viện Phật giáo, khu hồ Đàm Thị…vẫn đang được tiếp tục xây dựng.

Hình ảnh chùa Bái Đính
Hình ảnh chùa Bái Đính (KhanhVan)

Cổng tam quan chùa Bái Đính

Tam quan là 3 cửa, theo đạo Phật, đó là Không quan, Trung quan, Giả quan; Tam quan cũng có nghĩa là 3 cửa: cửa khổ, cửa vô thường, cửa vô ngã;

Khi quý khách bước qua ngưỡng cửa tam quan cũng có nghĩa là quý khách đã bước vào cõi thiêng, vào một thế giới khác tục, một thế giới có nhiều tính thánh thiện, để tìm lẽ cân bằng của cuộc sống. Những tín đồ đến đây như muốn đem hoà cá thể vào mênh mông, đem hữu hạn hoà vào vô hạn để tìm thấy chính mình.

Tam quan được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ, để xây dựng tam quan, người ta đã sử dụng khoảng 550 tấn gỗ tròn. Tam quan có lối kiến trúc kiểu chồng giường, cao 16,5m, rộng 13m, dài 32m.

Phía trước tam quan, hai bên tả hữu có hai con sư tử bằng đá, là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ. Trong trường hợp đặt trước Tam quan nó còn mang ý nghĩ kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương.

Vào Tam quan, theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào trong, bên phải có đặt tượng thần Khuyến thiện, tay cầm viên ngọc, biểu tượng cho đạo pháp; bên trái là tượng thần Trừng ác, tay cầm kiếm, mang ý nghĩa: lấy nền tảng của trí tuệ để hành đạo, hướng con người tới chân – thiện – mỹ.

Bên trên tam quan có hình tượng bánh xe luân hồi, được chạm thông phong, biểu tượng sự chuyển vần không ngừng của phật pháp, của trời đất. Ở giữa có chữ Vạn, tượng trưng của ngọn lửa tam muội (lửa thiêng). Chữ Vạn còn tượng trưng cho trí tuệ và lòng từ bi, quảng đại của đức Phật. Chữ Vạn mở rộng ra hai bên biểu thị sự vận động vô hạn của Phật lực, kéo dài tới 4 phương, mở rộng vô cùng tận.

Từ tam quan, chúng ta đi theo hành lang phía bên phải. Tại sao chúng ta lại vào phía bên phải mà không phải là bên trái trước? Theo quan niệm của đạo Phật, vào chùa chúng ta vào từ bên phải của khách (tức bên trái của chùa) có nghĩa là đi theo chiều quay của chữ Vạn, cũng là đi từ dương sang âm để làm tịnh tiến thiện căn.

chùa bái đính hành lang la hán
Hình ảnh chùa Bái Đính

Hành lang La Hán (La Hán đường)

Hành lang được thiết kế hoàn toàn bằng gỗ, các vì kèo mái được kết cấu kiểu giá chiêng chồng giường con nhị. Dọc hai hành lang tả, hữu đặt 500 pho tượng La Hán, chất liệu bằng đá, do các nghệ nhân làng nghề đá Ninh Vân (Hoa Lư) chế tác. Vì vậy hành lang còn gọi là La Hán đường.

La Hán đường gồm hai dãy, mỗi dãy 117 gian, dài 526m. 

La Hán là các đệ tử của Phật Thích Ca, họ chưa thành Phật nên được gọi là La Hán. Vì vậy chúng ta thấy, La Hán đường chỉ được sắp đặt từ tam quan đến gần điện Pháp chủ, đây cũng là con đường tượng trưng cho con đường đến với cõi Phật. Mỗi vị La Hán đều có tên và ý nghĩa riêng. Tại sao các vị La Hán lại được thờ ở hành lang? Vì ở vị trí này, họ thường xuyên gần gũi, giáo dưỡng, dìu dắt chúng sinh.

Trên con đường này, nếu để ý ra hai bên, chúng ta thấy rất nhiều những cây mít được trồng. Tại sao vậy? Trong đạo Phật, mít là Paramita. Âm Hán Việt là Ba-la-mật-đa, nghĩa là đáo bỉ ngạn (đến bờ giác ngộ). Ý nghĩa của cây mít là đại giác ngộ, đỉnh cao là giải thoát. Vì thế, cây mít là cây thiêng, gắn với Phật đạo (gỗ mít dùng làm mõ chùa, làm tượng Phật; lá mít dùng đặt oản lễ Phật…).

Thực ra, mít không phải là cây bản địa, mà nó được du nhập vào Việt Nam cùng với đạo Phật. Như chúng ta đã biết, kiến trúc cổ truyền của người Việt thường làm bằng gỗ mít, nó không mang yếu tố đơn thuần là chất liệu với những gân xoắn biểu hiện nghệ thuật, cao hơn, nó biểu hiện miền đất thoát tục. 

Hình ảnh chùa Bái Đính
Hình ảnh chùa Bái Đính (Truong Huy)

Tháp chuông chùa Bái Đính

Giới thiệu về kiến trúc tháp chuông chùa Bái Đính: Gác chuông kiến trúc hình bát giác, có 3 tầng mái cong, chiều cao 18,25m, đường kính 17m, mang dáng dấp của bông sen. Gác chuông có một lối lên và một lối xuống. Để lên gác chuông, mời quý khách lên phía cầu thang bên phải (theo lối nhìn của khách từ tam quan vào).

Giới thiệu về quả chuông trong tháp chuông chùa Bái Đính: Đây là quả chuông đồng nặng 36 tấn, do các nghệ nhân ở Huế đúc. Quả chuông này đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là quả chuông bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Như quý khách có thể thấy, quả chuông có 15 vành hoa văn. Tính từ trên xuống, các vành hoa văn được trang trí như sau:

Vành hoa văn 1, 2, 3, 4, 5, 10, 13: khắc chữ Hán.

Vành hoa văn 6 trang trí hoa văn lá đề cách điệu.

Vành hoa văn 7 là vành hoa văn ở giữa, rộng nhất, trang trí các bài minh văn bằng chữ Hán.

Vành hoa văn 8, 14 trang trí hoa văn cúc dây.

Vành hoa văn 9 trang trí hình ảnh lưỡng long chầu quả lôi đang bốc lửa và các chữ Hán. Xin nói thêm về hình ảnh quả lôi đang bốc lửa: Về ý nghĩa văn hoá tâm linh, hình tượng rồng chầu “quả lôi” biểu hiện ý thức cầu nguồn nước, cầu mưa. Đối với cư dân nông nghiệp, cầu nguồn nước chính là cầu no đủ, hạnh phúc.

Vành hoa văn 11, 12 trang trí hoa văn chữ “Vạn” cách điệu, giữa hai vành này, ở bốn phía là các rốn chuông.

Vành hoa văn 15 (vành cuối cùng) trang trí hoa văn sóng nước. Các hoa văn này được thiết kế mang phong cách thời Lý.

Theo quan niệm của nhà Phật, tiếng chuông khi gõ vào sáng sớm là cảnh tỉnh, buổi chiều là thu không. Mỗi khi tiếng chuông vang lên, mọi thế giới hành tội nghỉ ngơi, những kẻ tội lỗi khi nghe tiếng chuông thì tội lỗi cũng sẽ được tiêu tan.

Với quan niệm, tiếng chuông chùa càng ngân xa bao nhiêu, càng xua nỗi khổ của chúng sinh đi bấy nhiêu, vì vậy, gác chuông của chùa được đưa lên rất cao. Khi những hồi chuông được gióng lên, thì ở cách xa hàng chục km vẫn có thể nghe thấu.

Với phật tử, nghe tiếng chuông buổi sớm như nhắc nhở nghiệp bồ tát vị tha; tiếng chuông chiều: diệt trừ sầu não. Tiếng chuông cũng như thúc đẩy cho muôn loài sinh sôi, vì toà nhà đó mang yếu tố dịch học. Cả toà nhà coi như thái cực. Mái trên nhẹ (+), mái dưới nặng (-). Âm dương đối đãi, vạn vật sinh sôi, nảy nở.

Như quý khách có thể thấy, chày kình để đánh được quả chuông này cũng rất lớn. Chày kình bằng gỗ tứ thiết có chiều dài khoảng 5m, đường kính 30cm, nặng gần 500kg (5 tạ).

Phía dưới quả chuông là trống được mô phỏng theo trống đồng Đông Sơn. Đường kính mặt trống 5,5m, trọng lượng 70 tấn do các nghệ nhân của Kiến Xương – Thái Bình đúc.

chùa bái đính gác chuông
Tháp chuông chùa Bái Đính – Hình ảnh chùa Bái Đính

Điện Quan Thế Âm Bồ Tát

Giới thiệu về kiến trúc: Đây là công trình được làm hoàn toàn bằng gỗ, khoảng 900m3 gỗ tròn đã được sử dụng làm công trình này. Điện thờ gồm 7 gian, chiều cao 14,8m, chiều rộng 16,8m, chiều dài 40,4m.

Giới thiệu về pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát: Đây là pho tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là tượng Quan Thế Âm bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Tượng cao 5,4m, nếu tính cả bệ tượng là 9,57m; nặng 80 tấn, nếu tính cả bệ tượng là khoảng 100 tấn.

Như chúng ta đã biết, Quan Âm là vị phật đại diện cho tứ đại vô lượng tâm: đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, vì vậy, ở bất kể đâu, phật Quan Âm cũng luôn tượng trưng cho sự từ bi, cứu khổ, cứu nạn mọi chúng sinh.

Pho tượng tại đây là hình ảnh tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn (tức là Quan Âm nghìn tay nghìn mắt). Theo truyền thuyết, bà là con gái vua Thủy Tề, bỏ mặc giàu sang phú quý đi tu Phật, bà hy sinh cả đôi tay, đôi mắt của mình để chữa bệnh cho chúng sinh. Vì thế Phật cho bà tăng lên nghìn con mắt, nghìn bàn tay để bà làm được nhiều việc công ích và nhìn, thấu hiểu nỗi khổ của chúng sinh nghìn lần hơn nữa.

Tượng Quan Âm ở đây được thể hiện có 3 khuôn mặt chồng lên nhau, tương truyền, bà suy nghĩ về chúng sinh nhiều quá nên đầu vỡ làm 3; cũng có người giải thích đó là tam giáo đồng tôn: nho – đạo – phật. Tượng có 5 đôi tay lớn, mỗi đôi tay thể hiện một cách kết ấn khác nhau, có đôi tay kết ấn thiền định, có đôi tay kết ấn liên hoa… nhưng dù là cách kết ấn nào thì cũng thể hiện lòng từ bi, bác ái của Quan Âm bồ tát, của đạo Phật đối với chúng sinh.

Điều đặc biệt là tượng Quan Âm được tạc ngồi trên đài sen, có quỷ đội. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đây cũng là hình ảnh của tượng Quan Âm Nam Hải. Sở dĩ gọi là Quan Âm Nam Hải là vì ở biển phương Nam. Và con quỷ đội đài sen ấy có tên là Ô-ba-nan-đà long vương (gọi tắt là Nan đà long vương). Hình tượng quỷ đội đài sen biểu hiện rằng, uy lực của phật pháp đã thấm nhuần tới cả cõi âm ti.

Hai bên tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay còn có tượng Quan thế âm đại diện cho lòng từ bi, hỷ xả được đặt bên tay trái và bên tay phải là Đại Thế Trí Bồ tát đại diện cho trí tuệ. Hai tượng đều được làm bằng gỗ, mỗi tượng cao 10m và nặng 4 tấn.

chùa bái đính
Hình ảnh chùa Bái Đính – Toàn cảnh chùa Bái Đính

Điện Pháp chủ

Giới thiệu về hồ phóng sinh: Trước cửa điện Pháp chủ là hồ phóng sinh, diện tích khoảng 5000m2. Xung quanh hồ trồng nhiều cây bồ đề. Đây là những cây do các đồng chí lãnh đạo, các nguyên thủ quốc gia đã trồng khi về thăm chùa.

Có thể giới thiệu thêm về cây bồ đề (âm Hán Việt là Bu – đa) nghĩa là người giác ngộ. Cây bồ đề là cây thiêng gắn với đạo Phật, mang yếu tố giác ngộ nên nó được đặt ở phía ngoài. Với chúng ta hiểu, bồ đề là giác ngộ trên nền tảng trí tuệ hướng đến điều thiện. Vì vậy, cây bồ đề trồng phía ngoài, nhắc nhở phật tử phải dẹp lòng trần, khởi lòng tĩnh, hướng đến đất Phật. 

Loài cây này được những người theo Ấn Độ giáo, Kì-na giáo và Phật giáo xem là biểu tượng thiêng liêng nhất. Thật sự, cây Bồ-đề liên quan mật thiết đến sự kiện lịch sử về quá trình chứng đắc của thái tử Tất-đạt-đa, Ngài ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề và trở thành một vị Phật. Về sau, người ta lấy cây này biểu trưng cho cây của sự giác ngộ, nên Bồ – đề (có nghĩa là Giác ngộ).

Giới thiệu về kiến trúc: Điện Pháp chủ được xây dựng theo kiến trúc 2 tầng 8 mái, gồm 5 gian, cao 30m, dài 44,7m, rộng 43,3m, tổng diện tích 1945m2.

Giới thiệu về pho tượng Pháp chủ: Đây là pho tượng bằng đồng, cao 10m, nặng 100 tấn, do các nghệ nhân làng nghề đúc đồng Ý Yên chế tác. Pho tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là pho tượng phật Thích Ca Mâu Ni bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Khi nhắc đến Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta đều biết, đó là người khai sáng ra đạo Phật và ngài đã tu thành chính quả.

Theo lịch sử Phật giáo, ngài sinh ngày 15 tháng 4 năm 620 TCN. Ngài chính là người đã tìm ra một học thuyết, một tôn giáo dạy người ta về nỗi khổ của con người và cách thoát khỏi những nỗi khổ đó. Cho đến nay, Phật giáo vẫn là một tôn giáo chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của người dân Việt Nam và các giáo lý của Phật giáo vẫn được đông đảo phật tử tôn sùng.

Pho tượng Thích Ca Mâu Ni ở đây được tạc ngồi trên tòa sen, tay phải cầm bông hoa sen, trên ngực có chữ Vạn.

Hình ảnh tượng cầm bông sen mang ý nghĩa rằng: Đức Phật dạy cho chúng sinh đến chùa không phải là cầu xin mà thực ra là đi tìm chính mình, bởi bông sen mang nghĩa nhân – quả: Ai tạo nhân nào sẽ hưởng quả ấy.

Sen là biểu hiện của lý và trí; phàm và thánh; âm và dương cùng một thể, cùng một cội nguồn. Đồng thời, một yếu nghĩa trong chùa, bông sen còn biểu hiện cho tâm trong sáng, tâm chân thực mà thông qua đó nó biểu tượng cho tự tính tròn đầy, đẹp đẽ nhất.

Bên phải của điện, là tượng ngài A-nam có chiều cao 7,2m nặng 30 tấn đồng, là 1 trong những đệ tử của Phật có tố chất thông minh và sáng dạ. Ngài là người được trực tiếp nghe nhiều giáo pháp của Phật. Bên trái là tượng Ca diếp cao 7,2m nặng 30 tấn đồng. Ngài là đầu đà tu hành “đi khất thực” nên được xưng là “ Đệ Nhất Đầu Đà”.

Hai bên điện đặt tượng Bát bộ Kim cương: Các vị này có nhiệm vụ bảo vệ phật pháp ở vòng ngoài.

Bát bộ Kim cương gồm:

Thanh Trừ Tài Kim Cương.

Tích Độc Thần Kim Cương.

Hoàng Tuỳ Cầu Kim Cương.

Bạch Tĩnh Thủy Kim Cương.

Xích Thanh Hoả Kim Cương.

Định Trừ Tai Kim Cương.

Tử Hiền Kim Cương.

Đại Thần Lực Kim Cương.

Toàn cảnh chùa Bái Đính nhìn từ bảo tháp
Toàn cảnh chùa Bái Đính nhìn từ bảo tháp (NguyetMoon)

Điện Tam thế chùa Bái Đính

– Giới thiệu về vị trí phong thủy của khu chùa Bái Đính (Tại sân điện Tam thế, vì ở vị trí này khách có thể nhìn bao quát toàn cảnh chùa Bái Đính). Từ sân điện Tam thế nhìn về phía cổng Tam quan chùa Bái Đính:

+ Bên hữu (phải) có dãy núi Hàm Rồng, núi Hàm Xà.

+ Bên tả (trái) có núi Lê, núi Khám, núi U Bò, núi Ba Chạc, núi Thờ.

+ Phía trước chính diện có hồ Đàm Thị, xa hơn là núi Hàn Cay, tựa bức bình phong của khu chùa, xa hơn nữa là dòng Hoàng Long đầy ắp huyện thoại. Chúng ta có thể thấy, phía trước khu chùa là một bức tranh sơn thủy hữu tình, âm dương đối đãi. Có thể nói thêm phía bên kia bờ Hoàng Long là quê hương của vua Đinh Tiên Hoàng, cũng là quê hương của Quốc sư Nguyễn Minh Không, người có công đầu xây dựng ngôi chùa Bái Đính cổ.

+ Phía sau là núi Bái Đính, nơi có ngôi chùa cổ.

– Giới thiệu về kiến trúc: Điện Tam thế được xây dựng với kiến trúc 3 tầng mái, gồm 7 gian, 2 chái, với tổng cộng 66 cột lớn nhỏ đúc bê tông, ốp gỗ. Phật điện cao 34m, dài 59,10m, rộng 40,50m, diện tích lòng điện 2364m2.

Con đường nhất chính đạo từ cổng Tam quan chùa Bái Đính đến điện Tam thế chùa Bái Đính dài 812m.

Bức phù điêu đá (trước thềm tòa Tam thế) có kích thước 10m x 10m, được chạm khắc tứ linh: long, ly, quy, phượng.

– Giới thiệu về bộ tượng Tam thế: Đây là bộ tượng đồng, do các nghệ nhân đúc đồng ở Ý Yên (Nam Định) chế tác. Bộ tượng đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận là bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam. Mỗi pho tượng cao 7,20m, nặng 50 tấn, đặt trên bệ đá cao 1,5m.

Tam thế có nghĩa là 3 thời: quá khứ, hiện tại, tương lai. Tên đầy đủ của bộ tượng này trong đạo Phật là Tam thế thường trụ diệu pháp thân, có nghĩa là Phật luôn tồn tại kỳ diệu khắp mọi nơi, mọi lúc. Ý nghĩa của bộ tượng này là các vị Phật của các thời luôn nối tiếp nhau để giáo hóa chúng sinh. Các vị Phật có kích thước và hình dáng giống nhau, đều ngồi thế tọa thiền kiết già toàn phần (yoga).

Vị Phật ngồi giữa là tượng hiện tại thế, còn gọi là Hiền kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thiền định với ý nghĩa giữ cho tâm thanh, lòng tĩnh, chống lại mọi tà loạn.

Vị Phật ngồi bên trái (theo hướng nhìn của khách từ ngoài vào) là tượng quá khứ thế, còn gọi là Trang nghiêm kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Thuyết pháp với ý nghĩa dùng đạo Phật để giáo hóa chúng sinh.

Vị Phật ngồi bên phải là tượng vị lai thế, còn gọi là Tinh tú kiếp. Vị phật này thể hiện cách kết ấn Vô úy với ý nghĩa diệt mọi trừ tà ma, tội lỗi.

Phật Di Lặc

Tượng Phật Di Lặc cao 10m, nặng 80 tấn đặt trên ngọn đồi. Di Lặc là biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc trong phong thủy, người ta tin rằng nụ cười của Phật Di Lặc xua tan buồn phiền, giận dữ của con người thành hạnh phúc, Phật tới đâu là có hạnh phúc tới đó. Đôi khi Phật mang theo quả hồ lô biểu tượng của sức khỏe và trường thọ, gậy như ý biểu tượng cho quyền lực.

Chùa Bái Đính về đêm

Toàn cảnh chùa Bái Đính về đêm
Chùa Bái Đính về đêm – hình ảnh chùa Bái Đính
phật di lặc
Chùa Bái Đinh về đêm – Tượng phật chùa Bái Đính

Bảo Tháp chùa Bái Đính

Tọa lạc ở phía Tây điện Tam thế của chùa Bái Đính, Bảo tháp xá lợi Phật chùa Bái Đính nổi bật giữa hàng loạt công trình Phật giáo đồ sộ. Với kiến trúc tinh tế chứa đựng những tinh hoa và tâm sức của các nghệ nhân, Bảo tháp hiện đang trở thành một biểu tượng linh thiêng mới. Kết cấu của Bảo tháp mang đậm nét văn hóa của Việt Nam. Tháp có 13 tầng, cao 99m, chân tháp là hình lục giác kiên cố với chu vi 24m.

Bao phủ toàn bộ phần ngoài Bảo tháp là gạch nung Bát tràng với hoa văn trang trí mang phong cách nghệ thuật thời Lý như mây bay, sóng nước, cánh sen. Xung quanh 6 cạnh là những tượng Phật nhỏ bằng đá được đặt hài hòa từ chân lên đến ngọn Tháp, tạo thêm điểm nhấn đặc biệt cho nơi đây. Để xây dựng một Bảo tháp độc đáo và ấn tượng như này là nhờ sự khéo léo tài tình của hàng chục thợ điêu khắc đến từ Ấn Độ và các kiến trúc sư, nghệ nhân giỏi trong nước.

Bước vào phía trong Bảo tháp chúng ta như lạc vào một không gian lộng lẫy, ngập tràn sắc vàng. Ngay giữa trung tâm tầng 1 của Bảo tháp chùa Bái Đính là tượng Thích ca mâu ni bằng đồng dát vàng rực rỡ, được đặt trên bệ đá xanh chạm khắc rồng, hoa sen và các linh vật một cách rất tinh xảo. Sáu mặt tường là các bức phù điêu miêu tả chân thực cuộc đời của Đức Phật kể từ khi sinh ra đến khi tu hành chính đạo.

Đến đây, du khách có thể chiêm ngưỡng những hệ thống phù điêu đá được trạm khắc sắc nét, cầu kỳ (do các nghệ nhân người Ấn Độ trực tiếp thi công), mô phỏng lại các điểm tích trong cuộc đời Đức Phật hoặc đi thang máy lên tầng cao nhất của Bảo tháp, nơi lưu giữ Xá lợi của Đức Phật được cung nghinh từ Ấn Độ vào năm 2008. Tương truyền rằng, sau khi Ngài viên tịnh, các đệ tử làm lễ trà tì, khi lửa tàn họ phát hiện trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt tỏa ra những tia sáng muôn màu mà sau này gọi là xá lợi Phật. Đây được coi là bảo vật của Phật giáo.

bảo tháp
Bảo tháp chùa Bái Đính

Trên trần Bảo tháp chùa Bái Đính được thiết kế theo phong cách Ấn Độ huyền bí, chạm khắc trên đó là hình ảnh Đức Phật, là hình tượng đài sen, chim lạc gắn trên các vách gỗ. Có thể nói, khi đặt chân đến đây, nơi linh thiêng đặt xá lợi Phật, chúng ta không chỉ được chiêm bái Phật tổ, thấm nhuần những ý niệm sâu sắc của đạo Phật, mà còn được chiêm ngưỡng toàn cảnh chùa Bái Đính nguy nga, hùng vĩ giữa những núi non trùng điệp xen lẫn thiên nhiên đất, trời.

Bảo tháp thờ xá lợi Phật Thích ca Mâu ni nói riêng và chùa Bái Đính nói chung được xây dựng như một biểu tượng để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tâm linh, tín ngưỡng đạo Phật từ ngàn đời nay, góp phần không nhỏ đưa vùng đất Cố đô dần trở thành Trung tâm phật giáo của cả nước. Con người đến đây để được tĩnh tâm cho tâm hồn thêm thư thái và cầu nguyện mọi sự tốt đẹp, an nhiên trong cuộc sống.

Một số công trình khác

Sẽ được xây dựng trong tương lai gần như: thảo viên, Học viện Phật giáo, Bảo tàng Phật giáo, hồ Đàm Thị…). Đây cũng là những công trình có kiến trúc đồ sộ, hoành tráng, tạo nên một quần thể chùa Bái Đính ấn tượng, độc nhất vô nhị của Việt Nam.

__

Du khách có thể tham khảo thêm các thông tin tại:

Website chính thức của Di sản Tràng An: https://disantrangan.vn/

Facebook: https://www.facebook.com/disantrangan.vn

Chia sẻ những bức hình đã chụp tại: https://www.facebook.com/groups/checkintrangan